Những điểm mới, quan trọng về định hướng phát triển của các lĩnh vực trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng


Tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược – nội dung cốt lõi của cách tiếp cận mới Điểm cốt lõi nhất trong cách tiếp cận của Đại hội XIV là sự phát triển về tư duy chiến lược. Trước hết, đó là sự chuyển đổi trong tư duy phát triển: Từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; từ tăng trưởng đơn thuần sang phát triển nhanh, bền vững và bao trùm; từ dựa vào các yếu tố truyền thống sang dựa vào tri thức, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là sự thay đổi có tính nền tảng, phản ánh bước trưởng thành về nhận thức lý luận và năng lực hoạch định chiến lược của Đảng. Thứ hai, đó là sự chuyển đổi trong tư duy hội nhập và tự chủ, tự cường: Từ hội nhập chủ yếu để thích ứng sang hội nhập chủ động, tích cực tham gia và từng bước định hình các luật chơi; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng cao tự chủ chiến lược, phát huy sức mạnh nội sinh của nền kinh tế. Điều này thể hiện bản lĩnh và sự tự tin của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt và phức tạp. Thứ ba, tầm nhìn phát triển được xác lập rõ ràng và tính định hướng dài hạn: đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tầm nhìn này không chỉ là mục tiêu kinh tế, mà là khát vọng phát triển toàn diện đất nước “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”, gắn với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

 

Như vậy, có thể khẳng định rằng: Đại hội XIV đã xác lập một cách tiếp cận phát triển mới, trong đó tư duy phát triển đóng vai trò dẫn dắt, phương thức tổ chức thực hiện tạo đột phá, và tầm nhìn chiến lược định hình hướng đi dài hạn của đất nước. Đây chính là cơ sở để hình thành hệ thống quan điểm phát triển mới, những bước phát triển về lý luận và các định hướng lớn trong các lĩnh vực, sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo.

 

 

1. Xác lập mô hình tăng trưởng mới và cơ cấu lại nền kinh tế – trục trung tâm của chiến lược phát triển

Một trong những nội dung có ý nghĩa quyết định đối với định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn tới là việc xác lập mô hình tăng trưởng mới, đồng thời đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điểm mới căn bản của mô hình tăng trưởng được Đại hội XIV xác lập là sự chuyển đổi từ mô hình dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây không chỉ là sự điều chỉnh về cơ cấu kinh tế, mà là sự chuyển đổi về chất của phương thức phát triển, nhằm tạo ra năng suất cao hơn, chất lượng tăng trưởng cao hơn và khả năng cạnh tranh mạnh hơn của nền kinh tế.

Trong mô hình đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục được đẩy mạnh nhưng với nội hàm mới. Không chỉ là phát triển công nghiệp theo chiều rộng, mà là ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp mới nổi, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất, đồng thời phát triển hợp lý các ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp, quốc phòng, an ninh. Đây là điều kiện quan trọng để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng. Cùng với đó, cơ cấu lại nền kinh tế được triển khai toàn diện, đặc biệt là khu vực nông nghiệp và nông thôn theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, gắn với chuỗi giá trị và nâng cao hiệu quả. Điều này không chỉ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, mà còn bảo đảm phát triển bền vững trong điều kiện biến đổi khí hậu và yêu cầu chuyển đổi xanh.

Một điểm mới rất quan trọng là việc xác lập rõ vai trò của các thành phần kinh tế trong mô hình phát triển. Đại hội XIV khẳng định: kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong việc giữ ổn định và định hướng phát triển, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; tiếp tục khuyến khích phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế tập thể, hợp tác . Cách tiếp cận này thể hiện nhận thức ngày càng đầy đủ, biện chứng hơn về mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, Đại hội XIV tiếp tục làm rõ hơn mối quan hệ giữa Nhà nước – thị trường – xã hội, trong đó thị trường giữ vai trò quyết định trong huy động và phân bổ các nguồn lực, Nhà nước đóng vai trò định hướng, điều tiết và kiến tạo phát triển, còn xã hội giữ vai trò giám sát và đồng hành. Đây chính là cơ sở để vận hành hiệu quả mô hình phát triển mới trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng. Có thể khẳng định rằng, mô hình tăng trưởng mới chính là trục trung tâm của toàn bộ chiến lược phát triển, chi phối và định hình các định hướng phát triển trong các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế – xã hội.

2. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội, khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển

Báo cáo chính trị Đại hội XIV chỉ rõ "Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội, khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển" 2 . Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có sự quản lý nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cơ chế thị trường sẽ phân bổ nguồn lực đến nơi sử dụng nguồn lực hiệu quả nhất. Như vậy, để nguồn lực có thể được phân bổ tối ưu và hợp lý, sự phối hợp giữa Nhà nước và thị trường cần có thêm sự giám sát của bên thứ ba - xã hội, trong đó thị trường giữ vai trò quyết định. Trong mối quan hệ 3 bên này, nội dung cốt lõi:

(1) Cơ chế thị trường có vai trò quyết định trong việc xác định giá cả, huy động và phân bổ các nguồn lực...

(2) Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với nguyên tắc thị trường và tạo môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động.

(3) Các tổ chức xã hội phản ánh với Nhà nước yêu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, của các doanh nghiệp… và giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Nhà nước.

Ở Việt Nam, qua 40 năm đổi mới, cùng với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội cũng từng bước được hình thành, phát triển, tạo nên cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường hiện đại, đầy đủ, hội nhập quốc tế. Từ thực tiễn, việc tổng kết và rút ra quan điểm về "Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội, khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong huy động và phân bổ các nguồn lực phát triển" là một điểm mới về chủ trương của Đảng thể hiện trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

3. Khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và giáo dục – đào tạo – động lực chủ yếu của phát triển trong kỷ nguyên mới

Nếu mô hình tăng trưởng mới là trục trung tâm, thì khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là động lực chủ yếu thúc đẩy sự vận hành và phát triển của mô hình đó trong kỷ nguyên mới. Đại hội XIV đã xác định rõ: phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia không chỉ là một nhiệm vụ quan trọng, mà là đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định để hình thành lực lượng sản xuất mới, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Điều này thể hiện bước chuyển mạnh mẽ từ tư duy coi khoa học – công nghệ là “hỗ trợ” sang coi đây là “động lực trực tiếp” của tăng trưởng.

Trên cơ sở đó, yêu cầu đặt ra là phải đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đồng thời gắn chặt với tái cơ cấu nền kinh tế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việc hình thành các cực tăng trưởng, các vùng kinh tế động lực cũng cần được đặt trong mối quan hệ với phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo ra sự lan tỏa trong toàn bộ nền kinh tế. Trong mối quan hệ với khoa học – công nghệ, giáo dục và đào tạo giữ vai trò nền tảng, lâu dài trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới, gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức. Điều này đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đặc biệt là cơ chế quản lý, phương thức đào tạo và chính sách sử dụng nhân lực.

Một điểm đột phá rất quan trọng là yêu cầu đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách tài chính và đầu tư cho khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, xóa bỏ các rào cản, tạo môi trường thuận lợi cho sáng tạo và phát triển. Đây chính là điều kiện để giải phóng tiềm năng, phát huy nguồn lực trí tuệ của xã hội, đưa khoa học – công nghệ thực sự trở thành động lực chủ yếu của phát triển.

Như vậy, có thể khẳng định: khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trực tiếp; giáo dục – đào tạo là nền tảng lâu dài, cùng tạo nên sức mạnh nội sinh quyết định khả năng phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

4. Con người, văn hóa và chính sách xã hội – nền tảng và mục tiêu của phát triển

Trong hệ thống định hướng phát triển của Đại hội XIV, con người, văn hóa và chính sách xã hội không chỉ là một lĩnh vực, mà giữ vai trò nền tảng, đồng thời là mục tiêu tối thượng của sự phát triển. Trước hết, Đại hội XIV tiếp tục làm sâu sắc và cụ thể hóa quan điểm nhất quán của Đảng: con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Tuy nhiên, điểm mới không chỉ dừng ở khẳng định, mà nhấn mạnh yêu cầu hiện thực hóa quan điểm này trong toàn bộ quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách phát triển. Điều đó đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách phải hướng tới nâng cao toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, văn hóa và xã hội.

Trong bối cảnh đó, văn hóa được xác định không chỉ là nền tảng của xã hội, mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng và hệ điều tiết sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Đặc biệt, lần đầu tiên Đại hội XIV xác định văn hóa là hệ điều tiết sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Đây là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng. Thực tế cho thấy, nếu phát triển kinh tế thiếu sự điều tiết của các chuẩn mực văn hóa, xã hội có thể xuất hiện nhiều hệ lụy như chạy theo lợi ích vật chất thuần túy, gia tăng bất bình đẳng, suy thoái đạo đức, thương mại hóa các giá trị tinh thần, ô nhiễm môi trường và khủng hoảng niềm tin. Những hệ quả này có thể làm xói mòn thành quả phát triển. Với tư cách là hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội, văn hóa thực hiện chức năng điều tiết thông qua: Định hướng giá trị phát triển đúng đắn; điều chỉnh hành vi cá nhân và tổ chức; củng cố kỷ cương, trách nhiệm xã hội; bảo đảm sự hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường.

Nhờ đó, văn hóa giúp cho phát triển: Không chỉ nhanh mà còn đúng hướng; không chỉ giàu có mà còn nhân văn; không chỉ hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc. Có thể khẳng định: kinh tế tạo ra của cải vật chất, còn văn hóa quyết định chất lượng và tính bền vững của sự phát triển. Vì vậy, Đại hội XIV coi văn hóa là một trụ cột không thể thiếu của chiến lược phát triển đất nước. Việc xây dựng và triển khai hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam hiện đại là một nội dung có ý nghĩa chiến lược, góp phần định hướng hành vi xã hội, củng cố bản sắc dân tộc và tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài. Đồng thời đó cũng là cơ sở để góp phần thực hiện chức năng hệ điều tiết phát triển của văn hóa.

Cùng với đó, chính sách xã hội tiếp tục được hoàn thiện theo hướng toàn diện, bao trùm và bền vững, với trọng tâm là bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, giảm nghèo bền vững và hỗ trợ các nhóm yếu thế. Điểm mới đáng chú ý là việc nhấn mạnh lấy mức độ hài lòng của Nhân dân làm thước đo quan trọng đối với hiệu quả chính sách và năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Điều này thể hiện sự chuyển đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, từ “quản trị hành chính” sang “quản trị phát triển lấy con người làm trung tâm”. Như vậy, có thể khẳng định: con người và văn hóa vừa là nền tảng, vừa là mục tiêu, đồng thời là nguồn lực nội sinh quan trọng của sự phát triển, bảo đảm cho sự phát triển của đất nước mang tính bền vững và nhân văn.

5. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại – điều kiện bảo đảm cho phát triển bền vững trong môi trường mới

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh, phức tạp, Đại hội XIV tiếp tục khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của quốc phòng, an ninh và đối ngoại như những điều kiện bảo đảm không thể thiếu cho sự ổn định chính trị - xã hội và sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Trước hết, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, với yêu cầu bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Điểm mới là việc nhấn mạnh xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là thế trận lòng dân vững chắc, coi đây là nhân tố quyết định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.

Đồng thời, Đại hội XIV đặt ra yêu cầu đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại, đủ khả năng đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, nhất là trước những hình thái chiến tranh công nghệ cao, an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng.

Trong lĩnh vực đối ngoại, Đại hội XIV tiếp tục phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm đối ngoại trong kỷ nguyên mới. Việt Nam không chỉ tham gia tích cực, mà từng bước chủ động đóng góp, định hình các cơ chế và thể chế đa phương, phù hợp với lợi ích quốc gia và xu thế phát triển của thời đại. Điều này thể hiện bước chuyển từ hội nhập “thích ứng” sang hội nhập “chủ động và dẫn dắt”, gắn với việc nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Có thể thấy, trong điều kiện mới, quốc phòng, an ninh và đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ bảo vệ, mà còn là yếu tố tạo môi trường hòa bình, ổn định và điều kiện thuận lợi cho phát triển, đồng thời góp phần nâng cao vị thế chiến lược của quốc gia.

6. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị – nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp phát triển

Trong toàn bộ hệ thống định hướng phát triển, Đại hội XIV tiếp tục khẳng định xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là nhân tố quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng. Điểm mới nổi bật là việc nhấn mạnh xây dựng Đảng không chỉ trong sạch, vững mạnh, mà còn phải đạo đức, văn minh, thể hiện bước phát triển về nhận thức lý luận và yêu cầu thực tiễn trong điều kiện mới. Đảng đạo đức, văn minh không chỉ là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn là yêu cầu tất yếu để Đảng đủ uy tín, năng lực lãnh đạo đất nước trong bối cảnh phát triển hiện đại, hội nhập sâu rộng.

Đồng thời, việc phát huy sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được xác định là một nguồn lực to lớn, là cơ sở chính trị – xã hội vững chắc cho sự phát triển đất nước. Như vậy, có thể khẳng định: xây dựng Đảng và hệ thống chính trị là nhân tố quyết định, giữ vai trò chi phối và bảo đảm cho việc thực hiện thắng lợi mọi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển của đất nước.

7. Nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược – sự quy tụ và cụ thể hóa các định hướng phát triển

Trên cơ sở các định hướng phát triển nêu trên, Đại hội XIV đã xác định hệ thống các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược nhằm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả đường lối phát triển trong giai đoạn tới.

Sáu nhiệm vụ trọng tâm được xác định không chỉ là những công việc cụ thể, mà là những lĩnh vực then chốt cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo để tạo chuyển biến rõ rệt trong nhiệm kỳ. Trong đó, nổi bật là việc ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, triển khai đột phá về khoa học – công nghệ, phát triển nguồn lực con người và củng cố quốc phòng, an ninh.

Ba đột phá chiến lược tiếp tục được khẳng định, đồng thời được nhấn mạnh với nội hàm sâu sắc hơn: đột phá về thể chế, đặc biệt là hệ thống pháp luật; đột phá về nguồn nhân lực chất lượng cao; và đột phá về kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Trong đó, thể chế được xác định là “đột phá của đột phá”, tạo điều kiện để phát huy hiệu quả các nguồn lực và thúc đẩy phát triển. Điểm đáng chú ý là mối quan hệ chặt chẽ giữa các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược. Các đột phá chiến lược tạo điều kiện, mở đường cho việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm, trong khi các nhiệm vụ trọng tâm là sự cụ thể hóa và kiểm nghiệm hiệu quả của các đột phá chiến lược trong thực tiễn.

Nguồn:https://tuyengiaodanvan.vn/api/v1/upload2026/04/07/1._bao_cao_vkdh_14_1775554059865.pdf

ThS. Đoàn Thị Cẩm Vân (ST)

A - Z Sitemap /

Đào tạo, nghiên cứu gắn liền với khoa học và công nghệ nhằm tạo ra những sinh viên và học viên có lòng yêu nước, có phẩm chất nhân văn mang đậm bản sắc Việt Nam, có ý thức sinh hoạt cộng đồng, có sức khỏe, có năng lực và kỹ năng toàn diện, tự tin, năng động, sáng tạo và trở thành công dân khởi nghiệp mang tính toàn cầu.