Hồ Chí Minh – Người kết hợp sức mạnh dân tộc và thời đại trong kháng chiến chống Mỹ
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ tối cao, là biểu tượng cao cả của trí tuệ, khí phách, lương tâm của dân tộc và thời đại. Tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người đã thắp sáng con đường cách mạng, truyền cảm hứng và sức mạnh cho toàn dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Dưới ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng, vượt qua muôn vàn gian khổ để giành độc lập, thống nhất đất nước. Người không chỉ là vị lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc mà còn là biểu tượng tập hợp sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc, vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại.

Trong tiến trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc phát huy cao độ nội lực dân tộc - tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường, quyết tâm độc lập, tự chủ - coi đó là nhân tố quyết định thắng lợi. Đồng thời, Người luôn chủ trương tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp, kết hợp giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để đánh bại kẻ thù xâm lược. Người khẳng định: “Chủ trương dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ nước Mỹ”. Tư tưởng này không chỉ là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong cuộc kháng chiến mà còn phản ánh tầm nhìn chiến lược sắc bén của Hồ Chí Minh về sức mạnh liên kết quốc tế trong bối cảnh thế giới phân cực sau Chiến tranh Thế giới thứ hai.
Nhờ am hiểu sâu sắc các nền văn hóa, đặc điểm tâm lý, lịch sử đấu tranh của các dân tộc, Hồ Chí Minh đã khéo léo khai thác những điểm tương đồng trong giá trị quan niệm giữa dân tộc Việt Nam và nhân dân các nước khác. Người đã khơi dậy và khích lệ sự đồng cảm, đồng tình ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Người chỉ rõ: “Trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của mình, nhân dân Việt Nam được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân các nước Á, Phi, Mỹ Latinh và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ”. Trên tinh thần chính nghĩa và sự chân thành, Hồ Chí Minh đã vận động thành công một phong trào quốc tế rộng lớn phản đối cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam.
Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ to lớn cả về vật chất và tinh thần từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Sự viện trợ này bao gồm các trang thiết bị quân sự, chuyên gia kỹ thuật, cố vấn quân sự, cũng như sự hậu thuẫn mạnh mẽ trên các diễn đàn quốc tế. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không bao giờ để đất nước bị phụ thuộc hoàn toàn vào viện trợ nước ngoài. Người luôn chủ trương “tự lực cánh sinh” và duy trì lập trường độc lập, tự chủ trong mọi tình huống.
Đặc biệt, trong bối cảnh quan hệ Liên Xô - Trung Quốc rạn nứt trong những năm 1960, Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, không để Việt Nam bị cuốn vào cuộc tranh chấp này. Người kiên định nguyên tắc: “Trong cuộc đấu tranh để thống nhất Tổ quốc, Đảng Lao động Việt Nam không bao giờ lại tự tách mình khỏi các đảng anh em”. Chủ nghĩa yêu nước chân chính của Hồ Chí Minh luôn gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa quốc tế vô sản, nhấn mạnh sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và phong trào cách mạng thế giới.
Chính lập trường trước sau như một đó đã củng cố niềm tin của các nước bạn bè quốc tế đối với Việt Nam. Hồ Chí Minh không chỉ kêu gọi sự ủng hộ bằng lý lẽ chính nghĩa mà còn chạm đến tình cảm sâu sắc của nhân dân thế giới. Thủ tướng Cuba Fidel Castro khẳng định, vì Việt Nam, Cu Ba sẵn sàng hiến cả máu của mình, thể hiện sự đồng lòng và liên minh chiến đấu son sắt giữa các lực lượng cách mạng.
Một trong những thành công chiến lược khác của Hồ Chí Minh là xây dựng và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương - Việt Nam, Lào và Campuchia. Trong thư gửi Hội nghị nhân dân Đông Dương năm 1965, Người nhấn mạnh: “Nhân dân ba nước anh em vốn đã luôn luôn cùng nhau sát cánh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa thực dân, đế quốc, thì khi đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh mở rộng do Mỹ gây nên, nhân dân ba nước phải đoàn kết chặt chẽ cùng chống đế quốc Mỹ, thì nhất định sẽ giành được thắng lợi”. Quan điểm của Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng cho sự hình thành và phát triển liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Trên trường quốc tế, Hồ Chí Minh cũng hết sức chú trọng việc xây dựng hình ảnh Việt Nam là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, công lý. Người nhiều lần nhấn mạnh vai trò của phong trào quốc tế vì hòa bình, vì sự tiến bộ nhân loại. Trong bài báo “Lại chuyện bom A và bom H” đăng trên Báo Nhân Dân ngày 16-3-1955, Người viết: “Thế là lực lượng đoàn kết của nhân dân yêu chuộng hòa bình mạnh hơn tất cả các thứ vũ khí và trước lực lượng to lớn ấy thì đế quốc Mỹ dù là hung ác cũng phải e dè”. Đó là lời khẳng định niềm tin vững chắc vào sức mạnh quần chúng nhân dân trên thế giới trong việc đánh bại chủ nghĩa đế quốc, bảo vệ hòa bình toàn cầu.
Không những vậy, trong tuyên bố tại Hội những người Ấn Độ nghiên cứu các vấn đề quốc tế ngày 7-2-1958, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đối với tất cả các nước trên thế giới, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết tha mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ để xây dựng hòa bình thế giới lâu dài”. Quan điểm ngoại giao này thể hiện tinh thần cởi mở, chủ động và tôn trọng lẫn nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tranh thủ thêm bạn bè và cô lập kẻ thù trên mặt trận ngoại giao quốc tế.
Với đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh luôn kiên định lập trường đấu tranh không khoan nhượng. Người yêu cầu đế quốc Mỹ phải chấm dứt ngay hành động xâm lược, rút quân đội khỏi miền Nam Việt Nam, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam, tuân thủ các điều khoản đã ký kết trong Hiệp định Gơnevơ năm 1954. Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng thể hiện thái độ khoan hòa, nhân văn đối với nhân dân Mỹ. Người nhiều lần phân biệt rõ giữa nhân dân Mỹ yêu chuộng hòa bình và nhà cầm quyền hiếu chiến. Người khẳng định: “Chúng tôi không có xích mích gì với nhân dân Mỹ. Chúng tôi muốn sống hòa bình và hữu nghị với nhân dân Mỹ”.
Chính nhờ sự kiên định trong chính nghĩa, sự khéo léo trong ngoại giao và sức mạnh nội tại của dân tộc, Việt Nam đã nhận được sự đồng tình mạnh mẽ từ nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Hàng loạt phong trào phản chiến bùng nổ tại Mỹ, Pháp, Nhật Bản và nhiều nước khác đã gây sức ép buộc chính quyền Mỹ phải xuống thang chiến tranh, tạo nên những điều kiện thuận lợi quyết định cho thắng lợi của Việt Nam. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo ra sức mạnh tổng hợp to lớn. Nhờ sức mạnh ấy, quân và dân ta đã tạo ra thời cơ lịch sử, mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đập tan chế độ tay sai, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thu non sông về một mối, đưa cả nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Th.S Nguyễn Tấn Tài – Tổ Lý luận Chính trị
- Những điểm mới, quan trọng về định hướng phát triển của các lĩnh vực trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế và vận dụng phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam hiện nay
- Ngày Quốc Tế Hòa Bình 21/9/2026: Chung tay vun đắp hòa bình từ những hành động mỗi ngày
- Tìm hiểu thuật ngữ “Tự Chủ Chiến Lược” trong văn kiện Đại Hội XIV của Đảng
- Giới thiệu sách “Tư duy nhanh và chậm” của Daniel Kahneman