Không – Thời gian và nhân vật trong Phòng Số 6* của Chekhov


* A.P.Chekhov. (2001). Truyện ngắn Sêkhốp (Phan Hồng Giang – Cao Xuân Hạo dịch). Hà Nội: Nxb Văn hóa – Thông tin

Tài năng và những độc đáo trong nghệ thuật trần thuật của Chekhov, cho đến nay, đã là điều không thể phủ nhận. Các sáng tác của Chekhov nói chung và truyện ngắn của ông nói riêng đã có một lịch sử nghiên cứu dày dặn và phong phú với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, mà tự sự học là một trong những xu hướng nổi bật. Do đó, qua góc nhìn tự sự học để tiếp cận truyện ngắn Phòng số 6, bài viết chủ yếu làm rõ thêm cái đặc sắc trong sáng tác của Chekhov. Tuy vậy, qua việc vận dụng một số lý thuyết truyện kể của Lottman, Bakhtin người viết vẫn mong muốn tìm thấy một điều gì vẫn chưa được nói ra. Vì như thế cũng tức là khẳng định tính năng sản vô tận – mà nhờ nó sức sống của một tác phẩm văn học có thể kéo dài đến vô cùng.

 

1. Không-thời gian trong truyện ngắn Phòng số 6:

Bakhtin xem chronotope là một yếu tố quan trọng chi phối kết cấu của một văn bản tự sự, tại đó bộc lộ rõ nét cái nhìn về thế giới và con người của tác giả. Trong truyện ngắn Phòng số 6, không khó để nhận ra Chekhov đặc biệt chú đến miêu tả không gian và thời gian mà trên đó các nhân vật xuất hiện và hoạt động. Nhất là không gian, không gian lúc này không chỉ còn là phông nền nữa mà đã trở thành một kí hiệu, một công cụ để truyền tải ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Như nhiều sáng tác khác, hai không gian chủ yếu trong Phòng số 6không gian tỉnh lẻkhông gian khép kín.

Chuyện diễn ra tại một trị trấn nhỏ, “cách đường hỏa xa hai trăm dặm, ở một tỉnh xép mà thị trưởng và tư vấn thị chính đều là những gã tiểu thương gần như vô học…” [tr.714]. Nếu xem “đường hỏa xa” như một phương tiện kết nối, thì vị trí cách xa những hai trăm dặm của thị trấn báo hiệu một sự biệt lập, tách rời của không gian nơi đây với phần còn lại của nước Nga. Ở mức độ nhất định, ta còn có thể xem đây như là sự giãn nở của một không gian khép kín. Trong thị trấn ấy, thời gian sinh hoạt trì trệ, lặp lại và tẻ nhạt. Nó thể hiện qua nếp sống của các nhân vật và lối vận hành hơn 20 năm không đổi của bệnh viện: “Trong thị trấn này cuộc sống ngột ngạt và buồn tẻ, các giới ở đây không có những hoài bão cao cả, họ sống một cuộc đời mờ nhạt, vô nghĩa, chỉ biết bổ cứu cho tình trạng đơn điệu của cuộc sống bằng sự hung bạo, trụy lạc thô kệch và giả nhân giả nghĩa.” [tr.681] Bởi sự đơn điệu đến ngạt thở của nó, đông đảo cư dân thị trấn hiện lên trong truyện ngắn có xu hướng mang dáng dấp của những con bệnh, lờ đờ, dặt dẹo ốm đau không chỉ về thể chất mà còn cả tinh thần. Cuộc sống của họ như là chuỗi tiếp nối của cùng 1 thời gian biểu, không tư duy, chỉ lặp lại như một cái máy. Chính vì thế mà Mikhail đã phải thốt lên một câu đầy mỉa mai: “Chà!...Thời buổi này mà ông còn đòi người ta phải có trí tuệ ư!” [tr.707]. Nếu không còn cần trí tuệ nữa thì con người cần gì? Và một con người mà không còn trí tuệ, không còn nhận thức được bất kì một điều gì là cao cả, là đúng đắn thì liệu có còn là con người không? Một chronotope như thế đã cho ra đời “Một thị trấn bất hạnh”. Hay đúng hơn, sống trong một thế giới tẻ nhạt, cô liêu và tù túng ngột ngạt như thế rồi sẽ đến triệt tiêu trí tuệ của con người, đó mới thực sự là nỗi bất hạnh thật sự.

Nếu không gian tỉnh lẻ tạo nên bầu không khí ngột ngạt chung cho toàn câu truyện, là bức tranh khái quát chung của thực tế xã hội, thì đi vào không gian khép kín, những bất hạnh của con người lần lượt được phơi bày. Hai không gian khép kín nổi bật trong tác phẩm là phòng số 6 và bệnh viện nơi bác sĩ Raghin làm việc. Phòng số 6 vừa như một mô hình thu nhỏ của thị trấn vừa như một nhà tù Barix tí hon, nằm tách biệt với phần còn lại của bệnh viện. Phòng số 6 không chỉ là kí hiệu nhan đề mà còn là nơi diễn ra những sự kiện quan trọng; do vậy, Chekhov đã dành hẳn phần đầu tiên để miêu tả rất tỉ mỉ căn phòng và toàn bộ những con người sống trong đó. Ở đây, ta chú ý đến phần mở đầu khi phòng số 6 xuất hiện và kết thúc tác phẩm, bao giờ không gian này cũng có sự bổ trợ của yếu tố phông nền. Khung cảnh bao quanh căn nhà tàn tạ vắng vẻ như một nơi từ lâu đã bị bỏ hoang: “Cuối bệnh viện, căn nhà gác xép, xung quanh mọc lên cả một rừng ngưu bàng, ké hoang và gai dại… Các bậc cấp trước thềm đều đã mục nát, cỏ mọc xanh rì, lớp vữa trát tường chỉ còn để lại một vài vết tích…Mặt sau quay ra cánh đồng qua dãy hàng rào bằng gỗ màu xám tua tủa những đinh bao quanh bệnh viện. Những chiếc đinh đầu nhọn chia ra ngoài, dãy hàng rào, cũng như chính căn nhà xép, đều có cái vẻ tiêu điều, ảm đạm.” [tr.672] Đâp vào ấn tượng của bạn đọc là hình ảnh hàng rào có đinh nhọn bao quanh bệnh viện, ta có cảm tưởng như đây là một trại tập trung, một nhà tù hơn là nơi cứu sống con người. Sự ngăn cách với thế giới qua hình ảnh hàng rào lại được đậm tô thêm một cấp độ nữa. Hình ảnh cuối cùng của căn phòng số 6 là hình ảnh ánh trăng chiếu qua song sắt tạo nên một tấm lưới in lên sàn nhà, cứ như thể có một tấm lưới vô hình chụp lên toàn bộ không gian vốn đã kín bưng ấy. Mở đầu và kết thúc tác phẩm bằng không gian khép kín đã khiến bầu không khí tù túng, chật hẹp, ngạt thở đến chết người (cái chết của Raghin) trở thành một dư âm, vọng mãi trong ấn tượng của độc giả.

Tính chất khép kín, cầm tù của phòng số 6 càng được bộc lộ rõ khi nhìn vào bên trong, nhất là với hai chi tiết quan trọng: toàn bộ cửa sổ đều có chấn song sắt ở bên trong và cái chuồng nuôi thú. Một lần nữa, Chekhov chặn đứng mọi sự liên kết về mặt không gian, song sắt được làm từ phía trong, ngăn không cho các nhân vật có thể nhìn ra thế giới bên ngoài, kín lại càng thêm kín. Và như thế, họ sống như nuôi nhốt một con thú chứ không phải là con người. Raghin đã đến phòng số 6 nhiều lần, nhưng không lần nào không gian bên ngoài xuất hiện, nhà văn hoàn toàn tập trung vào cuộc đối thoại giữa hai nhân vật. Thế mà, lúc này, nhà văn để nhà tù là hình ảnh đầu tiên mà Raghin nhìn thấy khi ở trong phòng số 6 và thiên nhiên hiện lên với vẻ lãnh lẽo chết chóc [tr.773]. Với khung cảnh ấy, Raghin mới thực sự chạm đến cái mà ông gọi là “thấu hiểu” mà ông từng ngây thơ rao giảng cho Gromov. Chính vì thế mà dưới “vầng trăng lãnh lẽo tím bầm” và nhà đá xa xa ngoài song sắt, nhân vật đã thốt lên cay đắng: “Thực tế nó kia rồi”. Như thế, không gian không chỉ ngầm biểu lộ những đổi thay của thế giới mà còn là một chiếc màn phóng chiếu và ghi nhận những biến đổi trong nhận thức của nhân vật.

Do có cùng tính chất với chronotope tỉnh lẻ nên thời gian ở đây cũng là thời gian của đời sống sinh hoạt thường nhật cũ mòn. Thời gian như trì trệ đến tưởng như ngừng trôi bởi sự lặp lại, tù túng của không gian và nếp sinh hoạt trăm ngày như một: “Có lẽ không có nơi nào cuộc sống lại đơn điệu như trong căn nhà xép này…Ngày nào cũng chỉ có thế…” [tr.691] Nó đơn điệu đến nỗi thực đơn cũng chẳng thay đổi, bao giờ cũng là canh bắp cải và cháo bột vào bữa trưa và sáng thì chỉ được uống một cốc trà duy nhất. Chắc dễ đến cũng cùng một loại trà không đổi. Thời gian tuần hoàn lặp lại như một cái máy ấy cùng với không gian khép kín của phòng số 6 gắn kết với nhau đã loại trừ mọi khả năng phát triển của các nhân vật, hay đúng hơn là của thế giới. Nó kìm hãm và luôn giữ thế giới ở trạng thái bất động, không thay đổi. Chẳng hạn như con số 6 luôn luôn được duy trì từ đầu đến cuối truyện. Ban đầu, căn phòng số 6 có 6 người; kể cả khi có thêm bác sĩ Raghin thì nhìn từ góc độ một phòng bệnh, thì lúc này căn phòng có đủ 6 bệnh nhân như tên gọi của nó; và rồi sau cái chết của Raghin, nó lại trở về với số lượng 6 người như ban đầu. Nhịp sống tẻ nhạt lại bắt đầu như cũ bởi. Có hay không có bác sĩ Raghin, bệnh viện vẫn sẽ tiếp tục vận hành bằng sự lừa gạt, trộm cắp như nó đã như thế hơn 20 năm nay. Hoàn cảnh hay là thế giới trong tác phẩm như vậy, về bản chất là giữ nguyên, chẳng có gì thay đổi.

Thông qua xây dựng không gian tỉnh xép xa xôi, tách biệt kết hợp với các không gian hẹp đã và thời gian sinh hoạt trì trệ chậm chạp đã kiến tạo một mô hình thực tại khả thể, nơi con người sống trong bầu không khí tù túng, ngột ngạt không chỉ về không gian sống mà còn cả trong nhận thức và tâm hồn. Quan niệm của nhà văn về thế giới và con người không chỉ được bộc lộ qua mô hình chronotope mà còn qua mối quan hệ giữa các nhân vật.

2. Bộ ba nhân vật Mikhail Averyanyts – Raghin – Ivan Gromov

Nếu xem Raghin là nhân vật trung tâm của tác phẩm, thì Ivan Gromov ở đây đóng vai trò như một “nhân vật chung đôi” với Raghin. Không chỉ bởi lớp vỏ bác sĩ – bệnh nhân mà còn bởi sự va đập trong hệ tư tưởng của hai người. Tuy nhiên trước khi nói về cặp nhân vật này, có một nhân vật khác cần được chú ý, ấy là Mikhail Averyanyts. Ngoài Gromov, Mikhail là người thứ hai thường xuyên trò chuyện với Raghin, dù nhân vật không nói nhiều trong các cuộc hội thoại ấy hoặc bị giản lược thành hồi tưởng chung chung của Raghin. Tuy nhiên những lời cần nói thì vẫn được nói. Chỉ hai câu nói nhưng đủ để cho thấy không phải tự nhiên mà Raghin, lúc chưa lui tới phòng số 6, lại thấy thoải mái trò chuyện với vị chủ sự bưu vụ này. Lời đầu tiên là khi ông lắng nghe lời tán dương và sự tôn sùng của bạn mình với trí tuệ con người. Mới câu trước còn “hoàn toàn đúng” thì câu sau Mikhail đã thở dài: (1) “Chà!...Thời buổi này mà ông còn đòi người ta phải có trí tuệ ư!” [tr.707]. Lời quan trọng tiếp theo là khi ông từ biệt Raghin ra về sau cuộc nói chuyện dài hơi: (2) “Kể số phận run rủi chúng mình đến cái xó xỉnh này cũng chán thật! Chán nhất là đến chết cũng phải chết ở đây.” [tr.710] Nghĩa là gì? Nghĩa là, đằng sau cái vẻ suồng sã, cục mịch của “con nhà binh”, của một ông trang chủ chỉ còn toàn nết xấu, là một con người có nhận thức và tư duy như Raghin và Gromov vậy, thậm chí có phần tỉnh táo hơn Raghin. Thái độ đồng tình của vị chủ sự bưu vụ với những phát biểu của Raghin xuất phát từ thái độ yêu mến học thức uyên thâm của bác sĩ, tức là Mikhail cũng giống như Raghin và Gromov, trân trọng và thấy được vẻ đẹp của trí tuệ con người, công nhận cái đẹp của một cuộc sống nơi con người nhận thức đầy đủ về chính bản thân mình. Nhưng câu (1) ngầm cho ta hiểu rằng, nhân vật này thấy rõ bộ mặt ủ ê, ngột ngạt và chán chường của trị trấn này, Mikhail chấp nhận và tìm ra cách sống chung với nó theo kiểu của ông. Về phương diện này, Mikhail rất giống với Raghin, nhưng ông không đổ lỗi cho hoàn cảnh, từ lâu ông sớm nhận ra sự bất lực của bản thân của như sức ỳ ghê gớm của cái nếp sống cũ kĩ và không gian ngột ngạt nơi đây. Có lẽ, đó là nguyên nhân cho tiếng thở dài muộn phiền ấy, rất có thể Mikhail đã biết trước ông bạn già ngây thơ của mình rồi đây sẽ vỡ mộng. Cuộc sống ở cái tỉnh xép này đối với Mikhail cũng là một nỗi bất hạnh, “chán chết”. Trong câu (2), nhân vật cho thấy một sự nhận thức sâu sắc không chỉ về thực tại xung quanh và còn về số phận đáng buồn cho cả bản thân và những con người nơi đây. Nhưng Mikhail lại không hiểu Raghin, vả chăng, tư tưởng của hai người cũng khác nhau. Mikhail tìm sự cứu rỗi nơi tôn giáo, tức tìm cách làm dịu tâm hồn mình, chí ít nhân vật có cho mình một điểm tựa tinh thần. Và dẫu sao, ông cũng đã trở thành một phần của cái xã hội chật hẹp ấy, không còn ý thức phản kháng lại nó nữa, nên đối với hành động đi ngược lại với cơ chế vận hành của xã hội, Mikhail đứng về phía hội đồng thẩm tra và hành xử dưới sự chi phối của thiết chế tù túng đó. Tức là ông cho Raghin bị điên và vô tình góp phần đẩy bạn mình vào “nhà tù” căn phòng số 6.

Trở lại với mối quan hệ “chung đôi” giữa Raghin và Gromov. Trên bề mặt, mối quan hệ giữa họ là người chữa bệnh và con bệnh. Nhưng xét trên hành động và những cuộc đối thoại của cả hai ta sẽ thấy ở đây có sự nghịch đảo ngầm về vai trò giữa Raghin và Gromov. Chính trong những cuộc đối thoại mà hệ thống tư tưởng của Raghin va đập với những luồng suy nghĩ trái chiều của Gromov, để rồi mãi sau này ông mới nhận ra sai lầm của mình. Chekhov đã xây dựng hai nhân vật như đứng ở hai đầu của một cặp nhị phân trái ngược nhau. Nếu Raghin thụ động, hèn yếu và đổ lỗi cho hoàn cảnh thì Gromov lại quyết liệt đến mức cực đoan chống lại tình trại bại hoại, xấu xa của môi trường sống xung quanh, khao khát và luôn hành động để kiềm tìm tự do trọn vẹn. Với Raghin: “Cuộc đời là một cái bẫy rất phiền hà…Quả nhiên người ta đã bị những sự ngẫu nhiên nào đấy lôi từ cõi hư vô vào cuộc sống, trai với ý muốn của mình…rồi đến cái chết – cũng trái với ý muốn của mình.” [tr.708]. Ông xem bản thân như là nạn nhân của một cú lừa mà không nhận thấy rằng, cuộc đời y sĩ tẻ nhạt mà ông đang sống là kết quả từ chính lựa chọn của bản thân. Raghin thậm chí chối bỏ trách nhiệm với sự bang hoại của chính mình: “…Như thế nghĩa là kẻ chịu trách nhiệm về sự bất lương của mình không phải là mình, mà là thời đại…Giá mình ra đời muộn đi hai trăm năm, mình sẽ khác.” [tr.715]. Sự bất lực và buông xuôi của Raghin đã gây ra hậu quả nhãn tiền qua cảm nhận của Khoborov: “Khoborov cho ông bạn đồng nghiệp này là một lão bợm già,…” [tr.716] Mặc dù suy nghĩ của Raghin về thế giới xung quanh ông đầy tính triết học, có khi là cao đẹp nhưng chính bởi không có bất kì một hành động nào để thực hiện nó, mà Raghin trong mắt kẻ khác đã trở thành một “lão bợm già” cùng một giuộc với thế giới mà ông chán ghét.

Điều này hoàn toàn trái ngược với quan điểm của Gromov. Hai nhận vật đại diện cho hai thái độ của con người trước cuộc sống, và Raghin chính là kẻ yếu đuối: “Mà một cơ thể sống, nếu nó có sức sống thật, ắt phải phản ứng trước mọi sự kích thích… Một sinh vật căng thấp kém, thì càng ít nhạy cảm và phản ứng càng yếu ớt trước sự kích thích…Muốn coi khinh đau khổ, lúc nào cũng thỏa thuê và không ngạc nhiên trước cái gì hết, cần phải tiến gần tới cái trạng thái như thế kia kìa – Gromov chỉ gã mu-gich phì nộn nung núc mỡ - hoặc giả…đừng sống nữa.” [tr.731] Đây là lời của Gromov sau khi nghe Raghin viện dẫn một triết gia Khắc kỷ. Rõ ràng, trong mắt Gromov, thái độ né tránh, dửng dung và phó mặc của Raghin là một thái độ đớn hèn, anh coi thường vị bác sĩ trước mặt mình. Chính vì thế mà ngay lần gặp đầu tiên trong căn phòng số 6, Gromov đã thóa mạ và mỉa mai Raghin là “quân khốn khiếp”, “đồ lang băm”, “đồ đao phủ”. Đó không đơn giản là lời lẽ của một người điên, mà chàng biết rằng chính thái độ thờ ơ, dửng dưng của những người như Raghin đã trực tiếp kéo dài tình trạng ngột ngạt, trì trệ, suy đồi ở bệnh viện và cả ở thị trấn này. Nhưng chính sự khác biệt này về sau sẽ là cơ sở để Raghin xét lại các quan điểm sống của mình. Một lần nữa, Chekhov tạo lập 1 thế đối sánh giữa Mikhail – Raghin và Raghin – Gromov. Để thấy rõ hơn mối quan hệ giữa chúng ta cần xét đến những thay đổi của mô hình truyện kể.

Từ lý thuyết tự sự học, bài viết tập trung khai thác một số khía cạnh nổi bật của truyện ngắn Phòng số 6: mạch ngầm văn bản, mô hình không gian – thời gian, các nhân vật tiêu biểu trong tác phẩm. Những đặc sắc trong nghệ thuật tự sự của Chekhov vốn đã được khai thác và làm rõ một cách cụ thể, sâu sắc trong nhiều công trình nghiên cứu. Do đó, thông qua một số khía cạnh cơ bản như trên, bài viết chỉ mong muốn trình bày kết quả của một quá trình đọc và thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của một nhà văn vĩ đại. Qua đó, làm khẳng định tài năng của ông cũng như tự rút ra cho bản thân những điều mới mẻ trong quá trình tiếp nhận tác phẩm.

 Trần Thanh Nhàn

 

A - Z Sitemap /

Đào tạo, nghiên cứu gắn liền với khoa học và công nghệ nhằm tạo ra những sinh viên và học viên có lòng yêu nước, có phẩm chất nhân văn mang đậm bản sắc Việt Nam, có ý thức sinh hoạt cộng đồng, có sức khỏe, có năng lực và kỹ năng toàn diện, tự tin, năng động, sáng tạo và trở thành công dân khởi nghiệp mang tính toàn cầu.