Khái quát các mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2026-2030
Ngày 2/4/2026, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Kết luận Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số".

Kết luận số 18-KL/TW nêu rõ: Tình hình thế giới giai đoạn 2021-2025 có những thời cơ, cơ hội và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức là chủ yếu; tuy nhiên, với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân dưới sự lãnh đạo của Đảng; sự giám sát, đồng hành, phối hợp của Quốc hội; sự chỉ đạo, điều hành quyết đoán, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, đất nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng, toàn diện, đột phá, nhiều điểm sáng nổi bật; đạt và vượt 22/26 chỉ tiêu kinh tế-xã hội chủ yếu giai đoạn 2021-2025, trong đó hoàn thành toàn bộ chỉ tiêu về xã hội.
Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm, tăng trưởng phục hồi mạnh mẽ và đạt kết quả tương đối cao, bình quân 5 năm đạt 6,2%/năm, trong đó năm 2025 đạt 8,02%. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Lạm phát, bội chi ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu về nợ công được kiểm soát; bảo đảm an ninh, an toàn tài chính quốc gia.
Thực hiện 3 đột phá chiến lược đạt nhiều kết quả nổi bật; nhiều dự án tồn đọng, doanh nghiệp thua lỗ kéo dài, các tổ chức tín dụng yếu kém được xử lý có kết quả. Hệ thống hạ tầng được phát triển đồng bộ, hiện đại. Phát triển nguồn nhân lực, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt kết quả tích cực. An sinh xã hội được bảo đảm, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên. Quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; đối ngoại và hội nhập quốc tế được đẩy mạnh.
Tuy nhiên, Kết luận số 18-KL/TW cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém: nền tảng kinh tế vĩ mô chưa thực sự vững chắc, năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng chống chịu và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đóng góp chưa nhiều cho tăng trưởng. Chưa có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân và đầu tư nước ngoài. Đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả. Hoạt động của một số chính quyền cấp xã sau sắp xếp còn gặp khó khăn, lúng túng.
Bước vào giai đoạn 2026-2030, tình hình thế giới có nhiều diễn biến mới hết sức phức tạp, khó lường; đặc biệt là xung đột ở Trung Đông gây gián đoạn nguồn cung, khiến giá dầu, khí và chi phí vận tải tăng cao, ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại, đầu tư quốc tế và tác động trực tiếp đến việc thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội nước ta. Trên cơ sở đánh giá toàn diện những thuận lợi, khó khăn, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất các mục tiêu, chỉ tiêu để đạt tăng trưởng kinh tế ở mức 2 con số để hoàn thành 2 mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước.
Theo đó, mục tiêu của đất nước là phát triển nhanh, bền vững, đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, thuộc nhóm 30 nền kinh tế có quy mô hàng đầu thế giới. Phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân. Mục tiêu cũng bao quát các nội dung khác về thể chế, nguồn nhân lực, văn hóa, xã hội, môi trường, hạ tầng, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Các chỉ tiêu cụ thể được xác định đồng bộ, trong đó GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt 30% GDP; kim ngạch xuất khẩu tăng 15-6%/năm; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng trên 55%; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1-1,5 điểm phần trăm mỗi năm. Các chỉ tiêu này gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, cải thiện đời sống Nhân dân và củng cố nền tảng phát triển bền vững.
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng “hai con số,” Kết luận số 18-KL/TW đã đề ra các quan điểm chỉ đạo nhất quán, mang tính nền tảng và đột phá: bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước; huy động sức mạnh toàn dân, doanh nghiệp và hệ thống chính trị; đổi mới quản trị, phân cấp mạnh mẽ gắn với kiểm soát quyền lực; hoàn thiện thể chế, khơi thông nguồn lực, tháo gỡ điểm nghẽn. Đồng thời, yêu cầu bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, quản lý nợ công bền vững và đầu tư công có trọng tâm, tạo lan tỏa.
Đoàn Thị Cẩm Vân (ST)
- Chủ nghĩa xã hội không tưởng – Giá trị và hạn chế lịch sử
- Một cọng rơm và cuộc cải cách đạo đức sinh thái
- 30/4 /1975 – 30/4/2026 - BẢN HÙNG CA THỐNG NHẤT VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẾ HỆ HÔM NAY
- GIỚI THIỆU SÁCH “NGHIÊN CỨU VĂN HÓA CỔ TRUYỀN VIỆT NAM”
- Hậu nhân bản luận hiện sinh - Cuộc tái định nghĩa bản thể luận trong kỷ nguyên lai ghép