Tính Nữ Vĩnh Cửu như một sự cứu rỗi: Từ Thần thoại Hy Lạp đến Nhà thờ Công giáo
Xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1832 trong vở kịch Faust, tính nữ vĩnh cửu (eternal feminine) không chỉ là cụm từ quen thuộc với các nhà nữ quyền mà nó còn xuất hiện trong văn hóa đại chúng phương Tây. Tuy nhiên, sự phố biến của nó không giúp cho quá trình cắt nghĩa của các học giả trở nên dễ dàng hơn hoặc đơn giản chỉ là dễ có sự đồng thuận hơn. Nhìn lại các công trình phê bình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng để đưa ra một định nghĩa cụ thể cho tính nữ vĩnh cửu là một khó khăn bởi lẽ nó giống như một quan niệm hơn là một khái niệm học thuật. Tính nữ vĩnh cửu, xét đến cùng, có thể xem như là cách gọi chung cho tập hợp của một số đặc tính cụ thể, mà những đặc tính này lại thay đổi theo từng cách lý giải, bối cảnh văn hóa và xã hội. Chẳng hạn, trong khi một số nhà nữ quyền thừa nhận sự tồn tại của tính nữ vĩnh cửu thì Simon Beauvoir trong Giới tính thứ hai, chương 11 lại phủ định điều này. Với bà, màu sắc thần thoại trong định nghĩa về tính nữ vĩnh cửu biến nó trở thành một thuật ngữ sáo rỗng và tạo ra cái nhìn sai lệch về người phụ nữ trong thực tế[1]. Hoặc là những nhận định gây tranh cãi cùng thái độ nhiều mâu thuẫn của Nietzsche đối với phong trào nữ quyền nói chung và vấn đề phụ nữ, tính nữ nói riêng[2]. Dẫu vậy, nhắc đến tính nữ vĩnh cửu phần lớn giới phê bình nghiên cứu vẫn thống nhất với nhau ở một số đặc tính cốt lõi. Nhìn chung, những đặc tính này xuất phát từ hai nền tảng: Một là từ trong thần thoại Hy Lạp. Hai là từ quan điểm của Goethe đã trình bày trong Faust.
Ngay trong những ý kiến phản bác thì nguồn gốc thần thoại của tính nữ vĩnh cửu là không thể phủ nhận. Có thể nói, các đặc điểm được cho là thường hằng của tính nữ là sự phản chiếu từ chính những lĩnh vực được các nữ thần bảo trợ. Chỉ vậy thôi cũng đủ để ta hình dung được những từ khóa tập hợp dưới cụm từ này: tình yêu - sự sinh nở, trí tuệ, sự sống - cái chết, và gia đình – hôn nhân. Nếu xét theo thứ bậc giữa các vị thần thì lẽ ra gia đình – hôn nhân (Hera) phải được nhắc đến đầu tiên song các bài viết đều ít khi nhắc đến khía cạnh này mà thường sử dụng “sự hòa hợp/hài hòa” (harmonity/unity) như một vế tương đương. Song, việc lựa chọn thứ tự các đặc điểm như thế không phải là quá khó hiểu. Bắt đầu từ hình tượng đất mẹ Gaia thì rõ ràng sự sinh nở, khả năng sáng tạo và tái tạo là một đặc tính tự ngàn đời của tính nữ. Về tình yêu, mặc dù cả Eros và Aphrodite đều bảo trợ cho lĩnh vực này nhưng xét theo tích kể được thừa nhận nhiều hơn thì Eros – thần nam xuất hiện sau nữ thần với thân phận là con trai của bà. Nguồn gốc ra đời của Aphrodite cũng là một điều đáng chú ý. Sinh ra từ bọt biển khi Cronos ném Uranus xuống đại dương, tình yêu mà Aphrodite bảo trợ ở đây mang tính phổ quát, tồn tại vượt lên trên tình ái đơn thuần cũng như sự cai trị quyền lực. Mặc dù sau này, Aphrodite thường gắn với tình yêu mang tính nhục thể, nhưng tính dục là một điều không thể tách rời khỏi nàng. Bởi nàng còn là vị thần bảo trợ cho sự sinh sôi, khả năng sinh sản (fertility); và chẳng phải cũng chính từ trong hành vi giao cấu nhục thể này vạn vật khởi sinh hay sao? Như thế, lòng yêu, sự yêu thương trong văn hóa tây phương gắn liền với tính nữ. Nhưng đồng thời ta cũng thấy ở đây, sau một thời gian phát triển, yếu tố tính dục, gợi tình quyến rũ bị bỏ rơi, hay đúng hơn là bị che lấp bởi đặc tính tái tạo, sinh nở. Đây là một điểm khác biệt so với quan điểm của phương Đông về tính nữ vĩnh cửu mà rồi đây chúng ta sẽ bàn đến ở phần sau. Mà tình yêu, theo Plato, chính là nền tảng của sự vĩnh cửu, bất tử. Trong Symposium, triết gia Hy Lạp đã gắn tình yêu với vẻ đẹp toàn bích bất tử, là cội nguồn của sự sáng tạo và động lực thúc đẩy con người tìm kiếm và vươn đến cái đẹp. Tình yêu với Plato không chỉ là cầu nối gắn kết cái thế giới vật chất với thế giới tinh thần lý tưởng vĩnh hẵng, siêu việt; mà thông qua nó, mọi vật được bất tử hóa ở cấp độ loài, cấp độ cộng đồng. Do đó, tình yêu (với mọi nghĩa và khía cạnh của nó, nhất là tính dục) làm nên tính chất bất tử và linh thiêng cho tính nữ.
Các đặc tính làm nên tính nữ vĩnh cửu bao giờ cũng móc nối vào nhau, từ cái này mà nảy sinh cái kia. Bởi tính chất sản sinh tái tạo mà sự sống, khả năng nuôi dưỡng sự sống là một đặc điểm khác của tính nữ vĩnh cửu. Nói đến tính nữ là người ta liên tưởng đến quá trình dưỡng dục, chăm sóc do nó gắn liền với quá trình sáng tạo và tái tạo cũng như sự yêu thương đã bàn trước đó. Hiện tượng nước đôi vừa mang tính tái sinh vừa mang tính hủy diệt trong hình tượng người phụ nữ là một điều đặc biệt. Không chỉ có hình tượng nữ thần Persephone, trong rất nhiều nền văn hóa cổ khác ở phương tây, chẳng hạn như các nước Bắc Âu ta cũng bắt gặp sự lưỡng phân đối lập này ở hình tượng các nữ thần. Tính nước đôi này không hề được tìm thấy ở bất kỳ hình tượng thần nam nào. Họ chỉ đại diện cho một thuộc tính duy nhất, hoặc sống hoặc chết, và thường là cái chết (chẳng hạn như Thanatos, Hades). Vì thế, khía cạnh ban phát, nuôi dưỡng sự sống thường được nhắc đến nhiều hơn khi nhắc đến tính nữ vĩnh cửu.

Sự ra đời của thần Vệ nữ (Venus/Aphrodite)
Quan niệm về tính nữ vĩnh cửu trong văn hóa phương tây không chỉ kế thừa từ trong cổ mẫu, thần thoại mà còn từ trong các quan điểm cùng hình tượng tôn giáo, mà cụ thể là Thiên Chúa giáo. Nói đến phụ nữ hay tính nữ trong kinh thánh có lẽ phải nhắc đến hai cái tên là Maria Madalena và Đức mẹ đồng trinh Maria. Song từ những gì được biểu lộ qua các nhân vật nữ trong Faust, rõ ràng nguyên mẫu tác động lên quan niệm tính nữ vĩnh cửu của Goethe là Đức mẹ Maria. Mater Gloriosa, Gretche và Helen - ba nhân vật nữ trong vở kịch đều đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển của Faust, và là sự cụ thể hóa cho câu: “Tính nữ vĩnh cửu dẫn dắt chúng ta đi”.

Bởi hạ sinh Jesus song vẫn là một trinh nữ, Maria đứng ngoài tội tổ tông của loài người. Do đó, Đức mẹ là biểu tượng cho sự thanh khiết, trinh bạch tuyệt đối. Thêm vào đó, Đức mẹ còn tham gia vào quá trình cứu rỗi (redemption) do Chúa thực hiện. Sự thanh tẩy, cứu chuộc cũng chính là phẩm chất mà Goethe nhấn mạnh khi nói về tính nữ vĩnh cửu. Điều này có thể thấy rõ ở phần cuối của tác phẩm khi Una Paenitentium (trước là Grechet) thỉnh cầu sự thanh tẩy và cứu rỗi cho linh hồn của Faust và để Faust được lên thiên đường mặc cho bi kịch mà nàng đã trải qua. Và Mater Gloriosa (Đức mẹ) hiện ra thực hiện thỉnh cầu đó của nàng. Ở đây, không những Chúa Cha vắng mặt mà vai trò cứu chuộc của Chúa cũng đã bị thay thế bởi Đức mẹ. Hay là hình ảnh nàng Helen hiện lên với tất cả vẻ đẹp và niềm hạnh phúc tựa thiên đường. Đối với Faust, Helen không chỉ là điều chàng khao khát mà còn là: “The eternal being, equal in birth to the gods, as great as she is lender, as majestic as she is lovable!”. Như vậy, tính nữ vĩnh cửu đối với Goethe, và trong quan điểm của nhà thờ công giáo gắn liền với sự thanh khiết, không bị vấy bẩn bởi những tội lỗi, ham muốn mù quáng và nhất là tấm lòng bao dung khoan thứ. Chính những điều đó sẽ đem đến sự cứu rỗi cho tâm hồn lầm lạc của con người.
Tất nhiên vẫn còn nhiều những đặc tính khác cũng được gắn cho tính nữ vĩnh cửu. Tuy nhiên nhìn lại các công trình nghiên cứu chúng tôi cho rằng những gì cốt lõi nhất của quan niệm về một tính nữ vĩnh cửu trong giới học thuật phương Tây đã được khái quát ở trên. Tựu chung, tình yêu, sản sinh hay tái tạo và khả năng cứu chuộc là những đặc tính được cho là sẽ làm nên một tính nữ vĩnh hằng. Như đã nói trước đó, tính nữ vĩnh cửu mang trong mình màu sắc của cổ mẫu, do đó nó có tính phổ quát. Tức là nó không chỉ tồn tại trong nền văn hóa, quan điểm phương Tây mà là tài sản chung của nhân loại, nó nằm trong tâm thức cộng đồng, dù là dưới nhiều dạng thức, tên gọi khác nhau. Nói đến Tây thì phải nhắc đến Đông. Những trình bày sơ bộ ở trên sẽ là cơ sở để chúng tôi đối chiếu với quan niệm tính nữ vĩnh cửu trong văn hóa phương Đông, nhất là Á Đông. Từ đó nhận ra, không phải ngẫu nhiên mà các nhà Đông Phương luận một thời từng gắn nó với sự nữ tính, với các đặc tính của phái yếu. Một phương Đông huyền bí quyến rũ như chính cách nó hình dung về tính nữ vĩnh cửu vậy.
Trần Thanh Nhàn
[1] “If the definition provided for this concept [eternal feminine] is contradicted by the behavior of flesh-and-blood women, it is the latter who are wrong: we are not told that Femininity is a false entity, but that the women that are concerned are not feminine. The contrary facts of experience are impotent against the myth….To pose Woman is to pose the absolute Other, without reciprocity, denying against all experience that she is a subject, a fellow human being.”
[2] Fredrick Appel trong bài viết tổng quan Nietzsche and Etermal Feminine đã chỉ ra rẳng: Nietzsche một mặt thừa nhận những phẩm chất đặc biệt của người nữ hay cái gọi là “tính nữ vĩnh cửu” nhưng vẫn đặt nó thấp hơn so với vị trí của người đàn ông. Và những đặc tính ấy chỉ thực sự trọn vẹn khi nó được sử dụng để phục vụ cho giới nam.
- Nhận diện, đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân - từ chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực hành đạo đức báo chí cho sinh viên Văn – báo chí
- Văn miếu Huế – Di sản tôn vinh Đạo Học đang được đại trùng tu
- Giới thiệu sách "Trang phục Việt Nam"
- Giới thiệu cuốn sách “Phong cách PR chuyên nghiệp”