Đọc như một “nghi thức” - Văn chương trong thời đại truyền thống số
Trong Sự biến mất của nghi thức, Byung-Chul Han mô tả hình thái của xã hội hiện đại như một xã hội không còn nghi thức.
Với Han, nghi thức được định nghĩa như những thực hành lặp lại, nhất quán, mang tính biểu tượng, giúp con người định hình thời gian, tạo sự ổn định và kiến tạo cộng đồng. “Thông qua tính nhất quán và sự lặp lại, nghi thức ổn định cuộc sống. Chúng khiến cho cuộc sống trở nên bền vững” (p.29). Nói cách khác, nghi thức là một quá trình tạo nghĩa, biến những sự kiện rời rạc thành một chuỗi có ý nghĩa, có thể hiểu được. Cũng có nghĩa là, khi nghi thức biến mất, đời sống mất đi cấu trúc chung để chia sẻ ý nghĩa; kinh nghiệm bị phân mảnh thành những khoảnh khắc riêng lẻ và nhanh chóng bị thay thế một cách dễ dàng.
Han cho rằng sự biến mất của các nghi thức này bắt nguồn từ sự lên ngôi của chủ nghĩa tân tự do trong một xã hội hiệu suất – hay đúng hơn là xã hội của cái mới. Môi trường truyền thông số là đứa con của nó. “Nội dung truyền thông trên màn hình của chiếc điện thoại thông minh […] hoàn toàn không mang tính nhất quán. Sự thay đổi nhanh chóng của các nội dung ấy không cho phép ta nán lại với chúng” [p….]. Chỉ trong vài phút lướt TikTok hay Instagram, người dùng có thể chuyển từ video kiến thức sang clip giải trí, drama hoặc quảng cáo, các “câu chuyện” (story) biến mất sau 24 giờ,…Thuật toán liên tục đề xuất nội dung mới, khiến ta trượt từ thông tin này sang thông tin khác mà không hoàn tất bất kỳ trải nghiệm nào. Thực trạng giao tiếp kỹ thuật số ấy đã thúc đẩy nhận thức tiếp nối (serial perception), tạo ảo giác phong phú nhưng thực chất nhận thức không có cơ hội nghỉ ngơi. Han cho rằng, chúng ta đang đánh mất khả năng chú tâm – một “kỹ năng văn hóa” vốn được hình thành và rèn luyện qua các thực hành mang tính nghi thức và tôn giáo [p….].

Như thế, truyền thống số nói chung và các mạng xã hội không còn là nơi kiến tạo chiều sâu, ngược lại nó suy yếu mối ràng buộc cộng đồng vì nó loại bỏ yếu tố thể xác (phi vật chất), Một sự kiện xã hội có thể bùng nổ tranh luận trong vài ngày, tạo traffic khủng với hàng nghìn bình luận và chia sẻ nhưng rồi nhanh chóng bị thay thế bởi chủ đề mới trước khi có đối thoại thực sự. Những hashtag kêu gọi đoàn kết có thể lan truyền mạnh mẽ, nhưng thường thiếu những thực hành chung đủ bền để duy trì sự gắn bó. Truyền thông kỹ thuật số giúp con người hiện diện cùng lúc trên một nền tảng, nhưng hiếm khi tạo ra trải nghiệm chung nơi mọi người thực sự “ở” cùng nhau để tạo ra các mối quan hệ thay vì chỉ là các kết nối [p.37].
Trong bối cảnh mọi thực hành giờ đây được đo bằng năng suất và tính hữu dụng như thế, việc học văn nói chung và việc đọc thường bị đặt câu hỏi về tính có thể tận dụng. Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ của Han, chính văn học lại là một trong số ít không gian còn giữ được tinh thần của nghi thức. Đọc văn học đòi hỏi thời gian, sự chú tâm và khả năng ở lại với văn bản, những phẩm chất ngày càng hiếm trong xã hội của lượt xem, lượt thích và phản hồi tức thì. Một tác phẩm văn chương không được “lướt” như một dòng tin, mà cần được đọc, đọc lại và đối thoại. Văn học chẳng những có khả năng minh họa, chỉ ra tình trạng “vô gia cư siêu nghiệm”, tình trạng không còn nơi nương tựa về mặt tinh thần do sự suy tàn của các giá tị truyền thống và tôn giáo trong xã hội tư sản hiện đại, mà còn giúp người đọc bước vào một nhịp độ khác: nhịp độ của suy ngẫm, của im lặng và của sự lặp lại có ý nghĩa.
Đối với sinh viên ngành Ngôn ngữ, Văn học và Truyền thông, đọc và các thực hành văn chương không chỉ là tiếp cận di sản văn hóa mà còn rèn luyện khả năng chú tâm dài hạn, năng lực cấu trúc câu chuyện, thấu hiểu chiều sâu tâm lý nhân vật và cảm nhận sắc thái ngôn từ. Từ đó có thể tạo ra những nội dung có khả năng chạm tới kinh nghiệm chung của cộng đồng. Đứng trước các khủng hoảng truyền thông, các thực hành văn chương cũng giúp người làm truyền thông suy nghĩ chậm lại, tránh phản ứng theo bản năng và biết đặt vấn đề trong bối cảnh rộng hơn.
Như thế, văn chương nói chung, thực hành đọc nói riêng chính là một hình thức “kháng cự mềm” trước áp lực sản xuất của xã hội. Nó không hướng đến quay lưng với công nghệ hay truyền thông hiện đại mà tái thiết nền tảng nhân văn cho việc sử dụng chúng. Một người làm truyền thông được đào tạo từ văn học sẽ không chỉ biết tạo nội dung thu hút mà còn ý thức được chiều sâu và tác động xã hội của thông điệp mình tạo ra.
Trần Thanh Nhàn
- 40 năm đường lối đổi mới ở Việt Nam – từ kinh tế kế hoạch hóa đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- GIỚI THIỆU SÁCH “NON NƯỚC XỨ QUẢNG”
- Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về bệnh quan liêu
- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh: 95 năm đồng hành cùng dân tộc
- Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên đại học trong bối cảnh chuyển đổi số