HIỆN HỮU LÀ VÔ THƯỜNG TRONG QUAN NIỆM PHẬT GIÁO


 

1. Dẫn nhập

          “Niêm hoa vi tiếu” là một trong những giai thoại nổi tiếng trong Phật giáo và Thiền tông khi nói về vấn đề giác ngộ - vốn là mục đích sau cùng của con đường tu đạo. Giác ngộ cũng tức là chạm đến Niết bàn, Câu chuyện về nụ cười của phật Ca Diếp đã cho thấy sự huyền diệu của giáo lí đạo Phật. Nó không bị ràng buộc vào một thời điểm hay không gian nhất định, nó biến hóa liên tục trong mỗi cá nhân tiếp thu nó. Bởi giác ngộ là cái không thể diễn đạt bằng lời, nó là thể nghiệm của mỗi cá nhân. Mà một trong những vấn đề căn bản cần lĩnh hội trên con đường đi đến Niết bàn chính là bản chất về sự hiện hữu của con người, hay nói cách khác chính là nhìn ra được bản chất của cuộc đời. Phật giáo phát triển theo nhiều nhánh do đó bàn về hiện hữu cũng có nhiều cách lí giải khác nhau; song, tựu chung, Đức Phật đưa ra ba đặc điểm của cuộc hiện sinh là: vô thường (anitya), vô ngã (antama) và khổ đau (dukka).

          Ở bài viết này, người viết tập trung đi khai thác các quan điểm giáo lí đạo Phật về tính chất vô thường (anitya) của hiện hữu. Bởi có thể nói, vô thường vừa là đặc điểm đầu tiên và cũng là đặc điểm quan trọng nhất khi nói về thực tại của con người dưới cái nhìn Phật giáo.   

2. “Duyên khởi tùy tương tác” – Từ lời dạy của Đức Phật đến cuộc đời

2.1. Vô thường hay là Thập nhị nhân duyên và Khổ đế.

Từ điển Đạo Uyển định nghĩa vô thường như “là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại diệt […]Vô thường là tính chất cơ bản của cuộc sống, không có vô thường thì không có sự tồn tại; vô thường cũng chính là khả năng dẫn đến giải thoát […]Vô thường là gốc của Khổ vì Sinh, Thành, Hoại, Diệt tự nó là Khổ.” [3;543]. Hoặc trong Niết bàn kinh, quyển 10, Văn thù sư lợi bạch Phật đứng trước Như Lai cũng đã khẳng định tính vô thường của sự vật như sau: “Như những vật ở thế gian trước vốn là không, nay lại thành có, rồi từ có trở lại thành không. Những vật như vậy đều là vô thường.” Như vậy, Vô thường hiểu một cách cơ bản là chỉ tính chất hay đổi thay, ngắn ngủi, chóng qua của vạn vật. Bản chất của thế giới quanh ta và chính sự hiện hữu của con người là như vậy, không bền vững và không thể tự trị (tự ngã); mọi vật đều thay đổi trong từng sát-na.

Lí giải và minh họa cho sự vô thường của hiện hữu là hình ảnh “bánh xe hiện hữu” hay là “chuỗi nhân quả mười hai mắt xích”. Thập nhị nhân duyên giải thích sự sinh khởi của tất cả sự vật, tâm thế trong cuộc đời. Mười hai mắt xích ấy bao gồm [1;121]:

1. Vô minh: cảm nghiệm khởi sinh cơ bản về hiện hữu là sự đau khổ và trầm luân trong đau khổ là bởi thiếu hiểu biết, bởi vô tri, vô minh. Vô minh khởi sinh ra vọng động, vọng động đưa đến hành xử, hành động, cả thể lí lẫn tinh thần; đó là Hành, mắt xích thứ hai.  

2. Hành: hành động hành xử xuất phát từ vô mình, rồi đưa đến tâm thức.

3. Thức: Do Thức mà có Danh (vô tướng) và có Sắc (hình tượng); mắt xích thứ 4.

4. Danh Sắc: Hợp nhau lại để thành lập mọi thứ khác trong con người là sáu căn, tức Lục Nhập (mắt, tai, mũi, lưỡi thân, ý). Đó là mắt xích thứ 5.

5. Lục Nhập: Sáu căn này tiếp xúc với nội và ngoại trần, khởi sinh ra Xúc: mắt xích thứ 6.

6. Xúc: tiếp xúc đưa đến Cảm Thọ những vui buồn, thương, giận, ganh ghét,..; Cảm Thọ là mắt xích thứ bảy.

7. Thọ: Cảm Thọ đưa đến ham muốn, ưa thích, ràng buộc, yêu thương, tình ái. Ái là mắt xích thứ tám.

8. Ái: Luyến ái đưa tới khuynh hướng nắm bắt, giữ gìn; đó là Thủ, mắt xích thứ 9.

9. Thủ: Nắm bắt giữ gìn, đưa tới chiếm hữu; Hữu là mắt xích thứ mười.

10. Hữu: Do Hữu mà có Sanh, mắt xích thứ mười một.

11. Sanh: Từ Sanh mà đi đến Lão, Bệnh, Tử; đó là mắt xích thứ 12.

12. Lão Tử: mắt xích này lại đưa đến nhiều vô minh hơn nữa và như thế tiếp tục trầm luân trong “chuỗi dây nhân quả mười hai mắt xích”

Từ bánh xe hiện hữu có thể thấy mọi vật sinh ra đều có mối liên kết với vật khác, và sự thay đổi của cái này sẽ dẫn đến sự thay đổi của vật khác.Bên cạnh đó trong thập nhị duyên khởi cũng hàm chứa Ngũ Uẩn – năm thành tố hình thành nên một con người, đồng thời trong nó cũng dồn nén sinh – lão – bệnh – tử hay sinh – thành - hoại – diệt. Nói cách khác, vô thường còn dẫn đến vô ngã và khổ đau, do đó “có tri kiến vô thường hành giả mới bước vào Thánh đạo”, ấy là “tri kiến của bậc Dự lưu”. Ý niệm về sự thay đổi, chóng tàn và hư vô của vạn vật cũng có trong nhiều triết thuyết phương Tây. Câu nói nổi tiếng của nhà triết học Hy Lạp Heraclitus: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông” rất gần với khái niệm vô thường của nhà Phật. Tuy nhiên, Heraclitus nhấn mạnh đến quy luật đổi thay của sự vật, trong khi đó vô thường mở rộng hơn, từ sự biến dịch không ngừng ấy mà sinh vô ngã, tức không chân lí cứng nhắc, bất biến đằng sau bản chất của sự vật. Tính vô ngã này về sau được các nhà lí luận hậu hiện đại phương Tây khai thác triệt để.

Và sau cùng, nói đến vô thường là nói đến Khổ đế, chân lí đầu tiên trong Tứ Diệu Đế, một trong những luận điểm cơ bản của giáo lí Phật giáo. Từ căn tính vô thường của vạn vật mà hình thành một số hình thái cơ bản của nỗi khổ: Thứ nhất, đó là cái khổ từ sự không rõ ràng, không chắc chắn và không trường tồn của những hạnh phúc giả tạm của thế gian. Thứ hai, đó là khổ đau do bất mãn - chúng ta luôn mong cầu nhiều hơn. Tiếp đến, khổ vì bản chất thăng trầm của đời sống. Như thế nếu nói, hiểu được bản chất của nỗi khổ, tức hiểu được Khổ đế là bước đầu tiên để lĩnh ngộ Tứ Diệu Đế thì cũng chính là nói ta hãy quan chiếu và chiêm nghiệm về vô thường. Tri kiến được bản chất vô thường là xóa đi vô minh về cuộc đời, cũng có nghĩa là phá vỡ bánh xe hiện hữu xoay vòng bởi nghiệp; hóa giải nghiệp và tìm thấy niết bàn ngay ở trong cõi tạm này.

2.2. Biểu hiện của vô thường trong cuộc sống

Vô thường là sự thật, hiện diện ở đời chứ không đơn thuần chỉ là một giáo lí, một triết thuyết trừu tượng. Do đó nó đòi hỏi chúng ta phải thực tập, quán chiếu thể nhập bởi như đã nói trước đó, ngộ là thể nghiệm mang tính cá nhân. Giáo lí thì phổ quát nhưng chính quán chiếu thực tập của chúng ta mới có thể chứng ngộ được nó.

Trước hết, thân thể là vô thường. Tuệ Trung Thượng Sĩ trong bài Vạn sự như quy có viết:

Tòng vô hiện hữu, hữu vô thông,

Hữu hữu vô vô tất cánh đồng.

[…]Thân như huyễn kính nghiệp như ảnh,

Tâm nhược thanh phong tính nhược bồng.

Dịch nghĩa

Từ “không” mà hiện ra “có”, “có” với “không” thông suốt,

Có có, không không rốt cuộc là đồng nhất.

[…] “Thân” như gương ảo, “nghiệp” như bóng,

“Tâm” như gió mát, “tính” như cỏ hồng.

Thân xác ta lúc này, như thế chỉ là một lớp vỏ tạm bợ, như “gương ảo”. Quá trình sinh – lão – bệnh – tử diễn ra ngay từ dây phút ta cất tiếng khóc chào đời. Do đó, với Phật giáo, sinh ra trên cuộc đời là một nỗi khổ, bởi chúng ta không tự nhiên mà xuất hiện trên cõi trần, mỗi người đều có cái nghiệp cần trả. Chúng ta lớn lên từng ngày cũng có nghĩa là chúng ta đã chết đi từng ngày, tức là chúng ta đang vô thường thay đổi. Ta hôm nay đã khác với ta hôm qua. Cũng như nhìn xuống dòng sông, ta thấy dòng sông không có gì thay đổi, vẫn là sông ấy, đó là không phải khác. Nhưng tất cả lượng nước trong dòng sông giây phút trước đã không còn nữa, mà đã thay vào đó lượng nước khác. Thân thể ta cũng vậy. Nhưng như vậy không có nghĩa là khuyến khích ta bỏ bê hay hủy hoại bản thân bởi nó tạm bợ, ngắn ngủi. Hiểu về vô thường để không ôm lấy những chấp kiến, chấp thủ, luyến ái mà tự làm mình đau khổ. Thay vào đó, ta phải sử dụng tấm thân mong manh khó được này vào mục đích tìm cách phá vỡ vòng luân hồi (chuỗi nhân quả 12 mắt xích), truy cầu giải thoát. “Cũng đừng vì tấm thân tạm bợ này mà tạo nghiệp bất thiện, gây khổ đau lâu dài về sau. Chúng ta phải sử dụng cái thân này như sử dụng một chiếc thuyền, gọi là thuyền pháp thân, để bơi qua dòng sông sinh tử, bằng những việc làm có ý nghĩa, lợi mình, lợi người đưa đến an lạc hạnh phúc.” [2]

Vô thường là bản chất của mọi hiện hữu do đó nó tồn tại trong mọi mặt của đời sống. Hoàn cảnh chúng ta sống cũng bị chi phối, tất cả đều là vô thường, biến đổi, kể cả núi non, cây cỏ chứ không cứ gì là con người. Nhưng vì không chấp nhận hoặc tưởng là thường hằng mà sinh ra đau khổ. Chẳng hạn con người luôn muốn trẻ mãi không già, hoặc bất tử, hoặc giữ mãi tình yêu của một người. Nói cách khác hầu hết chúng ta đều mong muốn tìm kiếm sự bất biến, thường hằng ở đời. Song đó là điều bất khả. Muốn mà không thể có, đó là nguồn gốc của khổ. “Vì sự vật biến chuyển không ngừng cho nên sự vật không duy trì được tính cách đồng nhất tuyệt đối của nó. Vô thường là một tên khác của Vô ngã. Đứng về mặt thời gian, sự vật là vô thường, đứng về mặt không gian, sự vật là vô ngã. Theo đạo Phật, vô thường còn có nghĩa là vô tướng (còn gọi là không) vì thực tại của vạn hữu thoát ra ngoài mọi khái niệm và ngôn từ.” [2] Danh và Sắc cũng là vô thường, tức lớp vỏ bên ngoài chỉ là cái nhất thời. Đều này lí giải tại sao con người thường đau khổ vì tình ái nhiều hơn bất kì thứ tình cảm nào khác. Bởi họ truy cầu một đối tượng bất biến, ta gán cho đối phương một “tự ngã” thường hằng, chấp thủ. Chính sự vô minh đó đã dẫn đến đổ vỡ và những thảm kịch trong tình yêu.

Cuối cùng, không thể không nói đến cảm xúc của chúng ta, tức nói đến Thọ.  Có ba cảm thọ cơ bản: cảm thọ khổ, cảm thọ vui và cảm thọ trung tính (tức không khổ không vui). Cả ba đều vô thường, luôn luôn thay đổi. Cuộc sống của con người là một chuỗi dài tiếp nối những niềm vui và nỗi buồn, đan xen giữa khổ đau và hạnh phúc. “Tất cả đều lặng lẽ trôi qua, và tâm niệm chúng ta luôn luôn thay đổi, trong từng sát-na sinh diệt.”       

3. Kết luận

Từ một số phân tích khái lược vừa nêu cũng đủ để ta thấy rằng tại sao vô thường lại trở thành một trong những khái niệm quan trọng trong giáo lí nhà Phật. Nó không chỉ thể hiện sự sâu sắc của Phật giáo trong mối tương liên với các triết thuyết phương Tây cũng như các giáo lí tôn giáo khác. Mà hơn hết, vô thường còn gắn liền với lời giáo huấn về bánh xe nhân quả và Tứ Diệu Đế - vốn là những luận điểm căn cốt trong hệ thống giáo lí nhà Phật. Tri kiến được vô thường là giải được vô mình, tức là phá vỡ vòng nhân quả, là giải được nghiệp; mà như thế cũng có nghĩa là có được nụ cười của phật Ca Diếp, thấy được Niết bàn. Dù Phật giáo chủ trương đi tìm sự giải thoát ở một kiếp sống khác, song các triết thuyết của nó vẫn đậm tính hiện sinh, bởi nó đề xuất con đường giải quyết các vấn đề căn cốt trong đời sống con người. Một khi hiểu được rằng ta cùng vạn vật đã, đang và sẽ luôn thay đổi trong từng sát-na, sinh cũng tức là diệt, có cũng là mất,…con người sẽ hóa giải được những chấp niệm để sống với tâm thế bình yên. Như thế, vô thường là một khái niệm tương đổi dễ hiểu trong tương quan với một loạt các khái niệm khác, song đa phần chúng ta chỉ dừng ở mức biết, tri nhận nó; để thực sự tri kiến được vô thường là cả một con đường dài. Nhưng dẫu sao, vì biết cuộc đời ngắn ngủi, nên ta biết trân quý cái hiện diện trước mắt, giữ lòng cho lòng bớt xao động trước những đổi thay, biến thiên của cuộc hiện sinh này.

 

Trần Thanh Nhàn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

Leslie Stevenson, David L.Haberman, Peter Matthews Wright (2018), Mười hai học thuyết về bản tính con người (Lưu Hồng Khanh dịch), Nxb Khoa học xã hội.

2.

Nguyễn Đức Sinh, “Hiểu cho đúng nghĩa vô thường của đạo Phật”, Vườn hoa Phật Giáo. Truy cập lần cuối: 12/4/2026

URL: https://vuonhoaphatgiao.com/phat-phap/giao-phap/vo-thuong-kho-vo-nga/hieu-cho-dung-nghia-vo-thuong-cua-dao-phat/

3.

Đạo Uyển (2001), Từ điển Phật học.

4.

Kinh đại bát Niết bàn, quyển 10. URL:   https://nietban.org/blog/2021/05/07/quyen-10/

 

 

 

A - Z Sitemap /

Đào tạo, nghiên cứu gắn liền với khoa học và công nghệ nhằm tạo ra những sinh viên và học viên có lòng yêu nước, có phẩm chất nhân văn mang đậm bản sắc Việt Nam, có ý thức sinh hoạt cộng đồng, có sức khỏe, có năng lực và kỹ năng toàn diện, tự tin, năng động, sáng tạo và trở thành công dân khởi nghiệp mang tính toàn cầu.